LƯỢC SỬ TRƯỜNG BỘ BINH:

Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam do chính phủ Quốc Gia quản lý, dần dần trở thành một Quốc Gia riêng biệt với danh xưng Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1956. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam cũng cải danh thành Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trường Bộ Binh là danh xưng sau cùng của Trường Sĩ Quan Thủ Đức thành lập ngày 9-10-1951 để đào tạo Sĩ Quan Trung Đội Trưởng thuộc ngạch Trừ Bị cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Lúc đầu Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức đặt dưới quyền chỉ huy của các Sĩ Quan Pháp. Vài năm sau mới chuyển giao cho Việt Nam. Vị Sĩ Quan Việt Nam đầu tiên làm Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh là Đại Tá Phạm Văn Cảm.

I. TIỂU SỬ TRƯỜNG BỘ BINH:

Tiền thân của Trường Bộ Binh bắt đầu từ TRƯỜNG SĨ QUAN THỦ ĐỨC và TRƯỜNG SĨ QUAN NAM ĐỊNH.

Tháng 10-1951. Một cuộc chiến tranh do Việt Minh chủ trương mỗi ngày càng gia tăng cường độ. Để đáp ứng nhu cầu sĩ quan chỉ huy cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đang trên đà bành trướng, Trường Sĩ Quan Thủ Đức được thành lập song song với Trường Sĩ Quan Nam Định tại Bắc phần.

Một năm sau, Trường Sĩ Quan Nam Định tại Bắc phần huấn luyện xong Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị, được sáp nhập vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức để trở thành quân trường duy nhất đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

LIÊN TRƯỜNG VÕ KHOA THỦ ĐỨC:

Sau 4 năm tích cực hoạt động trong trách vụ đào tạo Sĩ Quan Bộ Binh, năm 1955, Trường được giao phó thêm nhiệm vụ đào tạo chuyên viên các ngành trong Quân Đội và được cải danh thành “Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức” gồm các Quân Trường sau:

- Trường Bộ Binh.

- Trường Thiết Giáp.

- Trường Pháo Binh.

- Trường Công Binh.

- Trường Truyền Tin.

- Trường Quân Cụ.

- Trường Thông Vận Binh.

- Trường Quân Chính.

Tháng 10 năm 1961, do sự bành trướng chiến tranh xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt gây ra, tình trạng đất nước ở vào giai đoạn khẩn trương. Nhiều trận chiến bùng nổ trên toàn lãnh thổ Miền Nam. Nhu cầu cán bộ chỉ huy để cung ứng cho chiến trường lại gia tăng, vì thế các quân trường chuyên môn được tách khỏi Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, ngoại trừ hai trường Bộ Binh và Thiết Giáp, để lấy chỗ huấn luyện số thanh niên đông đảo được động viên trong một chương trình đại quy mô.

TRƯỜNG SĨ QUAN TRỪ BỊ THỦ ĐỨC:

Sau hai năm hoạt động liên tục với những phát triển không ngừng về cơ sở và kỹ thuật huấn luyện, đến ngày 1-8-1963, Bộ Tổng Tham Mưu đã ấn định nhiệm vụ của Trường là “đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho QĐVNCH”. Do đó Trường lấy lại danh hiệu là “Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức”.

TRƯỜNG BỘ BINH:

Đến tháng 4-1964, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các Cán Bộ Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng Bộ Binh. Để phù hợp với nhiệm vụ được giao phó, ngày 1-7-1964, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được cải danh là “Trường Bộ Binh” cho đến ngày cuối cùng 30-4-1975.

Đáp ứng với sự phát triên đào tạo Cán Bộ Chỉ Huy cho Quân Lực cùng nhu cầu địa thế thích hợp cho các bãi và sân tập thực hành cùng xạ trường, ngày 4-4-1974, Trường Bộ Binh từ Thủ Đức được di chuyển về Huấn Khu Long Thành.

Mặc dù dọn ra Long Thành cả năm mà không hiểu sao chẳng mấy ai gọi là Trường Bộ Binh Long Thành. Người ta cứ quen miệng gọi là Trường Bộ Binh Thủ Đức và có người vẫn cứ gọi là Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Quá khứ không phải là dĩ vãng, quá khứ nhập vào hiện tại. Có lẽ quá khứ vẫn là một cái gì đẹp như mối tình đầu chăng?

Trải qua hơn 21 năm, Trường Bộ Binh xứng đáng là Trường sản xuất nhiều Sĩ Quan Trừ Bị nhất vùng Đông Nam Á Châu vào thời điểm ấy.

II. BIỂU TƯỢNG ĐƠN VỊ:

1. PHÙ HIỆU:

Phù hiệu Trường Bộ Binh gồm một ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trực chỉ trên nền trời xanh thẳm.

- Ngọn lửa tượng trưng cho sự rèn luyện nung đúc chí khí và thể chất.

- Thanh kiếm bạc nói lên sự quyết tâm chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc Việt.

- Nền xanh là màu biểu tượng của Bộ Binh.

2. PHƯƠNG CHÂM:

“Cư an tư nguy” ghi trên phù hiệu và quân kỳ (có nghĩa là “muốn sống yên ổn thì phải nghĩ đến lúc hiểm nguy”, suy rộng ra: “Muốn Hòa Bình phải chuẩn bị chiến tranh”), do sáng kiến của Đại Tá Phan Đình Thứ, tự Lam Sơn, đương kiêm Chỉ Huy Trưởng của Trường.

3. DÂY BIỂU CHƯƠNG:

Để tưởng thưởng thành quả huấn luyện. Đến tháng 10-1964, Trường Bộ Binh đã được hai lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội và được ban thưởng Dây Biểu Chương màu Anh Dũng Bội Tinh vào ngày 12-10-1964.

III. NHIỆM VỤ TRƯỜNG BỘ BINH:

Trường Bộ Binh có những nhiệm vụ chính:

- Huấn luyện SVSQ Trừ Bị thường xuyên và SVSQ Trừ Bị Đặc Biệt.

- Huấn luyện quân sự cho các Khóa Sĩ Quan Quân Y và các Khóa Y, Nha, Dược Sĩ trưng tập.

- Huấn luyện các Khóa Bộ Binh Trung Cấp (nguyên là Khóa Đại Đội Trưởng) và các Khóa Bộ Binh Cao Cấp (nguyên là Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp).

- Huấn luyện các lớp đào tạo Huấn Luyện Viên.

- Kể từ đầu năm 1974, Trường đã tổ chức huấn luyện thêm các Khóa Bổ Túc Sĩ Quan Tham Mưu Tiểu Khu và Chi Khu cũng như Quân Sự tổng quát cho các Khóa Cao Cấp Chuyên Môn.

- Ngoài nhiệm vụ chính như trên, Trường Bộ Binh còn nhận nhiệm vụ huấn luyện một số Khóa học hoặc chương trình khác do Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn giao phó.

IV. CÁC VỊ CHỈ HUY TRƯỞNG LIÊN TIẾP VÀ THỜI GIAN PHỤC VỤ:

A. DANH TÁNH QUÝ VỊ CHỈ HUY TRƯỞNG TRƯỜNG SĨ QUAN NAM ĐỊNH VÀ THỦ ĐỨC KHI PHÁP HUẤN LUYỆN:

- Thiếu Tá Tilly Chỉ Huy Trưởng Trường Nam Định 01-10-1951

- Đại Úy Huỳnh Bá Xuân Chỉ Huy Phó Trường Nam Định 01-10-1951

- Đại Tá Chalandon Chỉ Huy Trưởng Trường Nam Định 01-10-1952

- Thiếu Tá Bouillet Chỉ Huy Trưởng Trường Thủ Đức 1951-1952

- Đại Tá Chalandon Chỉ Huy Trưởng Trường Thủ Đức 01-07-1952

(Trường Nam Định chỉ học một Khóa duy nhất. Khóa 2 học ở Thủ Đức).

B. DANH TÁNH QUÝ VỊ DANH TÁ, DANH TƯỚNG, NGUYÊN CHỈ HUY TRƯỞNG TRƯỜNG BỘ BINH QLVNCH:

Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên người Việt Nam là Đại Tá Phạm Văn Cảm.

1. Đại Tá Phạm Văn Cảm 1/11/1953 – 30-9-1956
2. Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm 1/10/1956 – 26/5/1961
3. Đại Tá Nguyễn Văn Chuân 27/5/1961 – 27/7/962
4. Thiếu Tướng Hồ Văn Tố 28/7/1961 – 19/5/1962
5. Đại Tá Lam Sơn 19/5/1962 – 3/11/1963
6. Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám 4/11/1963 – 7/4/1964
7. Chuẩn Tướng Bùi Hữu Nhơn 7-1964 – 20/11/1964
8. Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn 21/11/1964 – 20/2/1965
9. Chuẩn Tướng Trần Văn Trung 21/2/1965 – 2/12/1966
10. Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn 2/12/1966 – 14/4/1967
11. Chuẩn Tướng Lâm Quang Thơ 15/4/1967 – 20/8/1969
12. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần 20/8/1969 – 31-10/1973
13. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh 31/10/1973 – 1/11/1974
14. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi 1/11/1974 – 4/4/1975
15. Đại Tá Trần Đức Minh 4/4/1975 – 30/4/1975

Ghi theo cấp bậc lúc tại chức. Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn hai lần làm Chỉ Huy Trưởng. Kèm theo bài viết có đầy đủ hình ảnh của 14 vị Chỉ Huy Trưởng.

V. THÀNH QUẢ HUẤN LUYỆN:

Từ ngày thành lập Trường cho đến tháng 10/1974, Trường Bộ Binh được chia làm hai giai đoạn huấn luyện:

- Giai đoạn từ 1951 đến cuối 1967 được xem là thời kỳ bình thường. Trong khoảng thời gian này, Trường bị gián đoạn huấn luyện từ tháng 2/1955 đến tháng 3/1957 vì ảnh hưởng của Hiệp Định Genève năm 1954. Khóa 6 SVSQ/TB được tiếp tục huấn luyện vào ngày 25-3-1957. Mức độ huấn luyện của giai đoạn này được ghi nhận là cao nhất vào năm 1966, có 5.619 Sĩ Quan Trừ Bị tốt nghiệp.

- Giai đoạn từ đầu năm 1968 (tức sau Tết Mậu Thân) cho đến đầu năm 1975, vì nhu cầu cấp bách của chiến trường và cũng để đáp ứng với sự trưởng thành của QLVNCH nên nhu cầu huấn luyện được gia tăng rất nhanh. Năm 1968, số Sĩ Quan Trừ Bị tốt nghiệp là 9.479 Sĩ Quan. Năm 1969, số Sĩ Quan Trừ Bị tốt nghiệp lên đến 10.852.

Theo tài liệu kết quả tổng quát về số lượng các Sĩ Quan xuất thân từ Trường Bộ Binh qua các Khóa đã được đào tạo từ ngày thành lập Trường đến tháng 10/1974:

- 85 Khóa SQTB (71 Khóa SQTB/TX, 14 Khóa SQĐB). Số lượng Sĩ Quan đã tốt nghiệp là 84.223 người, kể cả hàng ngàn Sĩ Quan do các Bộ Tư Lệnh Không Quân, Hải Quân và Cảnh Sát Quốc Gia gởi đến thụ huấn.

- 9 Khóa Tiểu Đoàn Trưởng hay Bộ Binh Cao Cấp kể từ khi dời từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu về Trường Bộ Binh đã đào tạo được 1.655 Sĩ Quan kể từ cấp Đại Úy đến Trung Tá.

- 43 Khóa Đại Đội Trưởng hay Bộ Binh Trung Cấp có 5.156 Sĩ Quan khóa sinh trúng tuyển.

- Kể từ năm 1965, Trường Bộ Binh còn phụ trách huấn luyện thêm 13 Khóa Quân Y Trưng Tập, 21 Khóa

Sĩ Quan Căn Bản, 20 Khóa Sĩ Quan Huấn Luyện Viên. Gần 4.000 Sĩ Quan đã tốt nghiệp các Khóa này.

Sau tháng 10-1974 cho đến 30-4-1975, Trường còn huấn luyện thêm nhiều Khóa Sĩ Quan Trừ Bị, Đại Đội Trưởng và Bộ Binh Cao Cấp.

Suốt 24 năm trời, với kỹ thuật huấn luyện tân tiến, với thành phần cán bộ có khả năng, kinh nghiệm và thiện chí phục vụ dồi dào dưới quyền chỉ huy của các Tướng lãnh và Sĩ Quan Cao Cấp có nhiều tài ba. Trường Bộ Binh luôn luôn cải tiến phương pháp huấn luyện về cả lý thuyết lẫn thực hành để phù hợp với những biến đổi theo thời cuộc và cung ứng cho Quân Lực những Sĩ Quan ưu tú. Những lớp người đã phục vụ trong toàn quân sát cánh cùng nhân dân bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng Cộng Sản.

VI. CHI TIẾT VỀ NHỮNG KHÓA ĐẦU CỦA TRƯỜNG SĨ QUAN TRỪ BỊ THỦ ĐỨC VÀ NAM ĐỊNH:


1. Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định:

Khóa Ngày khai giảng Ngày mãn Khóa Số tốt nghiệp Tên Khóa Tên Thủ Khoa
1 01-10-1951 01-06-1952 255 Lê Lợi Nguyễn Duy Hinh

2. 20 Khóa đầu Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức:

Khóa Ngày khai giảng Ngày mãn Khóa Số tốt nghiệp Tên Khóa Tên Thủ Khoa
1 01-10-1951 01-06-1952 475 Lê Văn Duyệt Phạm Kim Quy
2 01-10-1952 01-04-1953 579 Phụng Sự
Paul Nguyễn Thanh Hue
3 01-04-1953 01-11-1953 821 Đống Đa Phạm Văn Man
3/P 01-09-1953 16-03-1954 324 Đống Đa Nguyễn Cao Truong
4 01-12-1953 01-06-1954 1148 Cương Quyết Nguyễn Văn Hai
4/P 16-03-1954 01-10-1954 625 Cương Quyết
Nguyễn Thanh Nguyên
5+P 16-06-1954 01-02-1955 1396 Vì Dân Nguyễn Văn Minh
6 25-03-1957 08-03-1958 563 Cộng Hòa Nguyễn Văn Vinh
7 25-06-1958 10-06-1959 346 Nhân Vị Nguyễn Hữu Phú
8 02-03-1959 07-03-1960 371 Bạch Đằng Pham Thanh Nhan
9 12-10-1959 14-11-1960 330 Đoàn Kết Lương Van Hoa
10 20-06-1960 14-06-1961 496 Thành Tín Huỳnh Văn Be
11 09-01-1961 22-12-1961 763 Đồng Tiến Trần Văn An
12 23-10-1961 01-08-1962 1478 Trần Hưng Đạo Nguyễn Ngọc Linh
13 15-03-1962 28-12-1962 1527 Ấp Chiến Lược Trương Đình Ngữ
14 17-09-1962 14-06-1963 2191 Nhân Trí Dũng Nguyễn Ngọc Diệp
15 25-02-1963 27-11-1963 1890 Cách Mạng Nguyễn Luong Y
16 27-09-1963 30-04-1964 1609 Võ Tánh Mai Van Men
17 13-01-1964 22-10-1964 1099
Nguyễn Thái Học
Nguyễn Kim Long
18 08-06-1964 18-03-1965 1219 Phan Văn Trị Trần Văn Ngôn
19 23-11-1964 27-08-1965 1407 Nguyễn Huệ Trần Sach Doc
20 12-04-1965 22-12-1965 1475 Xây Dựng Lý Cong Thuan

(Theo tài liệu tên Thủ Khoa không đánh dấu nên không rõ).

VII. TRƯỜNG BỘ BINH SẢN SINH RA CÁC TƯỚNG LÃNH:

Trường Bộ Binh đã sản sinh ra tất cả 41 vị Tướng lãnh, trong đó có 12 vị xuất thân từ Khóa 1 Lê Lợi Trường Sĩ Quan Nam Định, còn lại 11 vị Khóa 1 Lê Văn Duyệt Thủ Đức. Các Khóa khác của Thủ Đức là 18 vị (xem qua danh sách).

* Khóa 1 Lê Lợi (Nam Định):

- Trung Tướng: Lê Nguyên Khang, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Bảo Trị.

- Thiếu Tướng: Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Cao Kỳ.

- Chuẩn Tướng: Đặng Đình Linh, Nguyễn Văn Lượng, Phạm Hữu Nhơn, Vũ Đức Nhuận, Nguyễn Hữu Tần, Phan Phụng Tiên.

- Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng.

* Khóa 1 Lê Văn Duyệt (Thủ Đức):

- Trung Tướng: Đồng Văn Khuyên, Trần Văn Minh (KQ).

- Thiếu Tướng: Võ Xuân Lành, Nguyễn Khắc Bình, Nguyễn Ngọc Loan, Phan Đình Soạn (truy thăng).

- Chuẩn Tướng: Nguyễn Chấn, Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Bá Tính, Trương Bảy, Huỳnh Công Thành (truy thăng).

* Khóa 2 Phụng Sự (Thủ Đức):

- Chuẩn Tướng: Nguyễn Văn Thiện, Ngô Hán Đồng, Nguyễn Văn Khương. Chuẩn Tướng Thiện từ Đà Nẵng vào Sàigòn gắn sao, trên đường bay phản lực cơ A37 mất tích. Hai Đại Tá Đồng và Khương truy thăng Chuẩn Tướng (cả ba Tướng thuộc Khóa 2 chưa có vị nào mang sao).

* Khóa 3 Đống Đa (Thủ Đức):

- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (tuẫn tiết).

- Chuẩn Tướng: Huỳnh Văn Lạc, Nguyễn Văn Giàu.

* Khóa 3 Phụ (Trừ Bị Thủ Đức, huấn luyện tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt):

- Chuẩn Tướng Nguyễn Bá Liên (truy thăng).

* Khóa 4 Cương Quyết (Thủ Đức):

- Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.

- Thiếu Tướng Bùi Thế Lân.

- Chuẩn Tướng: Nguyễn Văn Điềm, Hồ Trung Hậu, Lê Quang Lưỡng.

- Chuẩn Tướng truy thăng: Đỗ Văn An, Nguyễn Trọng Bảo.

* Khóa 4 Phụ Cương Quyết 2 (Trừ Bị Thủ Đức, huấn luyện tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt):

- Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch.

* Khóa 4 Phụ Cương Quyết 2 (Thủ Đức):

- Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.

* Khóa 5 Vì Dân (Thủ Đức):

- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (tuẫn tiết).

* Khóa 16 Võ Tánh (Thủ Đức):

- Chuẩn Tướng cảnh Sát Đồng Hóa Trang Sĩ Tấn (thụ huấn giai đoạn 1 xong biệt phái).

Từ khi thành lập Trường Bộ Binh cho đến tháng 4-1975 đã có biết bao cựu SVSQ Trừ Bị xuất thân từ Quân Trường này đã nắm giữ nhiều chức vụ tối quan trọng trong các ngành Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, nhiều nhất trong hệ thống Quốc Phòng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

VIII. CẤP HIỆU SINH VIÊN SĨ QUAN TRỪ BỊ TRƯỜNG BỘ BINH:

Các tân khóa sinh thụ huấn Khóa Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bộ Binh sau 8 tuần lễ huấn nhục sẽ được gắn Alpha để trở thành SVSQ. Qua giai đoạn 2 cấp hiệu SVSQ ngoài chữ Alpha còn thêm 1 gạch.

Theo Huấn Thị số 0387/TTM/P5/KH/4 ngày 18-3-1969 của Bộ Tổng Tham Mưu về việc sử dụng cấp hiệu... trong Quân Lực VNCH.

Hình thức cấp hiệu SVSQ thuộc Quân Trường Lục Quân cũng được xếp theo năm học như sau:

- SVSQ năm thứ 1: Alpha.

- SVSQ năm thứ 2: Alpha + 1 gạch.

- SVSQ năm thứ 3: Alpha + 2 gạch.

- SVSQ năm thứ 4: Alpha + 3 gạch.

- SVSQ năm thứ 5: Alpha + 4 gạch.

- SVSQ năm thứ 6: Alpha + gạch lớn.

Kể từ tháng 3 năm 1969, khi Huấn Thị trên ban hành cấp hiệu SVSQ, Trường Bộ Binh chỉ còn Alpha không thêm một gạch vì thời gian đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bộ Binh dưới một năm.

Các Quân Trường khác đào tạo Sĩ Quan từ 2 năm trở lên trên cấp hiệu SVSQ được tăng gạch dựa theo số năm học, trong đó có các Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị và Trường Quân Y.

Cấp hiệu SVSQ Trừ Bị Trường Bộ Binh: Chữ Alpha bằng kim tuyến hay kim khí mạ màu vàng nằm trên nền cấp hiệu màu đen.

Cấp hiệu SVSQ có ba kiểu:

1. Cấp hiệu gắn trên cầu vai ngắn: với quân phục làm việc.

2. Cấp hiệu gắn trên cầu vai dài: với quân phục đại lễ, tiểu lễ, dạ hội hoặc đi phép.

3. Cấp hiệu gắn trên áo tác chiến: khi dùng quân phục tác chiến.

(Cấp hiệu trên đây cũng được dùng cho các SVSQ Trừ Bị thụ huấn tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH).

IX. CẤP HIỆU SĨ QUAN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG BỘ BINH:

Sinh viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh sau khi tốt nghiệp được mang cấp bậc Sĩ Quan khác nhau ở hai giai đoạn thụ huấn.

1. GIAI ĐOẠN 1 MANG CẤP THIẾU ÚY:

Khóa 1 Trường Sĩ Quan Nam Định cùng Khóa 1 cho đến Khóa 5 Trường Sĩ Quan Thủ Đức khi tốt nghiệp được mang cấp bậc Thiếu Úy Thực Thụ Trừ Bị. Sau 24 tháng đương nhiên thăng cấp Trung Úy Trừ Bị (ngoại trừ những Sĩ Quan vi phạm kỷ luật theo luật định).

Cấp hiệu Sĩ Quan của 5 Khóa học trên đây mang giống theo cấp hiệu Quân Đội Pháp khi còn Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Khi cải danh thành Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thay thế cấp hiệu Pháp bằng cấp hiệu hoa mai màu vàng. Những người hỏng các Khóa từ 1-5 tùy theo số điểm được xếp từ cấp Chuẩn Úy xuống Trung Sĩ.

2. GIAI ĐOẠN 2 MANG CẤP CHUẨN ÚY:

Sau khi Khóa 5 mãn khóa vào ngày 1-2-1955, mãi cho đến ngày 25-3-1957 (Đệ Nhất Cộng Hòa) Khóa 6 mới nhập học. Kể từ Khóa 6 về sau, khi tốt nghiệp mang cấp bậc Chuẩn Úy (không có thời gian thăng Thiếu Úy Tạm Thời). Để biết thêm: Có số ít Chuẩn Úy xuất thân từ Khóa 6 về sau, mỗi khi gặp nhau vui đùa là mình mang Chuẩn Úy TRÂU (chậm thăng Thiếu Úy), hay là Thượng Sĩ GÂN (cấp hiệu Chuẩn Úy giống như Thượng Sĩ I có Alpha nổi trên).

Mãi đến năm 1965 mới có quyết định điều chỉnh thâm niên cấp bậc cho các Sĩ Quan xuất thân từ Khóa 6 về sau. Những Khóa ra trường từ năm 1965 mang cấp bậc Chuẩn Úy, sau 18 tháng thăng cấp Thiếu Úy (ngoại trừ những Sĩ Quan vi phạm kỷ luật theo luật định). Những người hỏng của Khóa 6 về sau cũng tùy theo số điểm để xếp cấp bậc Hạ Sĩ Quan.

X. NGUYÊN LAI BINH NGHIỆP SĨ QUAN TRỪ BỊ:

Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu căn cứ vào Bảng Tướng Mạo và Quân Vụ Loại C của mỗi quân nhân để thiết lập hàng năm hai quyển Niên Giám Sĩ Quan: Một của Sĩ Quan các Quân Binh Chủng thuộc CHỦ LỰC QUÂN và một của Sĩ Quan thuộc Lực Lượng ĐỊA PHƯƠNG QUÂN.

Có tên trong Niên Giám Sĩ Quan là những Sĩ Quan có cấp bậc từ Thiếu Úy đến Đại Tướng đang tại ngũ vào năm đó.

Mỗi Sĩ Quan được ghi các chi tiết: Họ và tên, số quân, cấp bậc, ngày thăng cấp, ngạch binh chủng, ngày và nơi sinh, xuất thân, ngày nhập ngũ.

Đối với các Sĩ Quan xuất thân Trường Bộ Binh được ghi xuất thân như sau:

- SĨ QUAN NAM ĐỊNH (xuấn thân Khóa 1 Nam Định).

- SĨ QUAN THỦ ĐỨC (xuất thân từ Trường Thủ Đức).

- TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA (những Sĩ Quan Khóa Phụ Thủ Đức nhưng thụ huấn tại Đà Lạt, trong số có người vẫn ghi SĨ QUAN THỦ ĐỨC vì danh bạ được thiết lập khi trình diện tại Thủ Đức).

- TRƯỜNG NHA TRANG. Đối với các Sĩ Quan Trừ Bị thụ huấn tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH (tại Nha Trang).

XI. ĐẶT TÊN KHÓA HỌC THEO SỐ:

Trường Bộ Binh đặt tên Khóa học theo số như sau: Khóa 1 Nam Định cùng Thủ Đức khai giảng cùng một ngày 1-10-1951 tại hai địa điểm và mãn Khóa cùng một ngày 1-6-1952.

Sau Khóa 1, lần lượt đặt tên số cho các Khóa 2, 3, 3 Phụ (học tại Đà Lạt), Khóa 4 và 2 Khóa 4 Phụ: một Khóa 4 Phụ học tại Thủ Đức và một Khóa 4 Phụ khác học tại Đà Lạt. Đến Khóa 5 học tại Thủ Đức nhưng có hai Đại Đội thuộc Khóa 5 học tại Đà Lạt. Kế đến là các Khóa 6, 7 lần lượt theo thứ tự tính cho đến Khóa mang số 27 là Khóa cuối cùng (Khóa 27 khai giảng 26-12-1967 và mãn khóa 1-8-1968).

Đến Tết Mậu Thân 1968 VNCH và Cộng Sản Bắc Việt thỏa ước ngừng bắn trong 3 ngày Tết. Lợi dụng hưu chiến, Cộng Sản Bắc Việt đã âm mưu chuyển quân mở trận tổng tấn công xâm lăng Miền Nam bằng cách xâm nhập khắp các thành phố Miền Nam, gây bao nhiêu tang tóc cho đồng bào Miền Nam.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa liền ban hành lệnh tổng động viên kêu gọi thanh niên công chức có bằng Tú Tài trở lên đến hạn tuổi luật định, đầy đủ sức khỏe nhập ngũ vào quân đội. Thành phần động viên được đưa vào TTHL Quang Trung để theo học Khóa dự bị Sĩ Quan. Xong chuyển phần lớn khóa sinh về Trường Bộ Binh, phần khác chuyển ra Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH tại Nha Trang để đào tạo thành Sĩ Quan Trừ Bị. Kể từ 1968-1974, danh hiệu các Khóa Sĩ Quan Trừ Bị tại Thủ Đức cũng như Nha Trang được đánh số thứ tự Khóa học kèm theo niên hiệu trong năm đó, ví dụ: Khóa 1/68, Khóa 2/68 hay Khóa 9A/72, Khóa 9B/72 v.v... (Có A, B là Khóa đó số SVSQ trên 1.000 người phải chia hai).

XII. NGOÀI TRƯỜNG BỘ BINH ĐÀO TẠO SĨ QUAN TRỪ BỊ, CÒN HAI QUÂN TRƯỜNG KHÁC GÓP PHẦN ĐÀO TẠO SĨ QUAN TRỪ BỊ CHO QUÂN CHỦNG LỤC QUÂN.

Đó là hai Quân Trường:

- Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (tại Đà Lạt).

- Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH (tại Nha Trang).

Có những thời điểm, vì nhu cầu Sĩ Quan, chính phủ đã động viên để gia tăng tài nguyên Sĩ Quan. Với khả năng Trường Bộ Binh về chỗ ở cũng như phương tiện huấn luyện không đủ cung ứng cho số đông khóa sinh nên Bộ Tổng Tham mưu đã quyết định chuyển bớt một số tân khóa sinh ứ đọng đến hai Quân Trường trên huấn luyện trở thành Sĩ Quan Trừ Bị.

XIII. ĐÔI ĐIỀU CẦN BIẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHÓA HỌC TẠI TRƯỜNG BỘ BINH:

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có liên quan đến quân đội Pháp và Hoa Kỳ. Do đó, theo lịch sử, các Khóa đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị được ghi nhận có sự liên đới như sau:

1. TỪ KHÓA 1 ĐẾN KHÓA 5:

- Dùng sinh ngữ Pháp và học theo binh thư Pháp.

- Học về cơ bản thao diễn và chào kính theo Quân Đội Pháp.

- Học các loại vũ khí và mìn bẫy của Pháp.

2. TỪ KHÓA 6 VỀ SAU:

- SVSQ học tiếng Việt.

- Học về cơ bản thao diễn và chào kính theo Quân Đội Mỹ.

- Các đề tài huấn luyện một số môn học theo binh thư Mỹ.

- Các loại vũ khí và mìn bẫy đều của Mỹ.

Riêng các môn học về Dẫn Đạo Chỉ Huy, Chiến Tranh Chính Trị được rút tỉa những điểm hay của Quân Đội Pháp và Mỹ họp với các điểm sáng tạo qua sách lược của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa để huấn luyện khi tốt nghiệp người Sĩ Quan có khả năng hòa mình cùng đồng bào để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.

Riêng môn học Chiến Thuật áp dụng theo binh thư Mỹ về nguyên tắc, song Quân Trường rút tỉa kinh nghiệm từ chiến trường Việt Nam, tham khảo qua Bản Tin Kinh Nghiệm Chiến Trường của Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn phổ biến, hầu phối hợp soạn thảo những phiếu huấn luyện thích hợp để các Sĩ Quan ra trường áp dụng thích nghi nơi trận tuyến.

3. VỊ CHỦ TỌA CÁC LỄ MÃN KHÓA TRƯỜNG BỘ BINH:

Thường vị chủ tọa các Lễ Mãn Khóa Sĩ Quan là vị Nguyên Thủ Quốc Gia (lãnh đạo tối cao Quân Lực) như Tổng Thống, Chủ Tịch, Quốc Trưởng... đến chủ tọa để gắn cấp hiệu tân Sĩ Quan và trao kiếm danh dự cho Sĩ Quan thủ khoa, chấp nhận lời thề trung thành với Tổ Quốc của các Sĩ Quan cùng Khóa, đặt tên Khóa. Nhân dịp ban huấn từ về sách lược Quốc Gia trong giai đoạn đương nhiệm.

Trường hợp vị Nguyên Thủ vì lý do đặc biệt không đến dự được sẽ cử người thay thế.

4. ĐẶT TÊN CHO KHÓA HỌC TRƯỜNG BỘ BINH:

Mỗi Khóa học, trong lễ mãn Khóa, vị chủ tọa sẽ đặt tên cho Khóa ấy để các Sĩ Quan luôn nhớ về Khóa học mình xuất thân. Tên Khóa có thể là biểu tượng của một vị anh hùng dân tộc như Khóa 1 Nam Định là: Khóa Lê Lợi, Khóa 1 Thủ Đức là Khóa Lê Văn Duyệt, hay địa danh những nơi chiến thắng giặc Tàu của dân tộc Việt như Khóa 3: Đống Đa hay Khóa 8: Bạch Đằng. Tên Khóa cũng có thể là tên của một sách lược Quốc Gia đang áp dụng vào thời điểm Khóa ấy mãn Khóa như: Khóa 5 Vì Dân, Khóa 11 Đồng Tiến hay Khóa 13 Ấp Chiến Lược.

5. TRƯỜNG BỘ BINH DIỄN BINH CÁC NGÀY ĐẠI LỄ:

Kể từ ngày hình thành chế độ Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi bị bức tử, qua những ngày đại lễ như: Quốc Khánh, Quân Lực... đều có tổ chức cuộc diễn binh tại Thủ Đô Sàigòn do đại diện một số các quân, binh chủng, các Quân Trường, Trung Tâm Huấn Luyện và lực lượng bán quân sự cùng các đoàn thể tham dự. Bất kỳ cuộc diễn binh nào cũng có sự hiện diện của SVSQ Trường Bộ Binh. Khi đoàn quân rập bước trước khán đài, loa phóng thanh truyền đi thành tích của Quân Trường, tiếng vỗ tay vang dậy liên hồi do quân phục đẹp đẽ, vũ khí sáng choang, thẳng tắp, gương mặt hùng dũng, động tác chân tay hiên ngang bước đều và mạnh theo điỆu nhẠc quân hành. Trên lộ trình diễn binh, hàng trăm ngàn đồng bào hoan hô chào mừng, trong đó có nhiều nữ sinh, sinh viên dán mắt nhìn theo ngưỡng mộ. Trường Bộ Binh cũng thường được giải diễn binh xuất sắc. Hiện nay nơi hải ngoại, thỉnh thoảng xuất hiện trên màn hình những thước phim một thời oai hùng ấy.

6. BÀI HÁT CHÍNH THỨC CỦA TRƯỜNG BỘ BINH:

Nhạc phẩm THỦ ĐỨC HÀNH KHÚC của Nhạc Sĩ Hoàng Thanh là bài hát chính thức của Trường Bộ Binh.

7. KHU BƯU CHÍNH CỦA TRƯỜNG BỘ BINH:

Để giải quyết việc thâu nhận và chuyển đạt công văn, thư tín, danh thiếp, bưu phẩm, bưu phiếu cho đơn vị và quân nhân trực thuộc. Mỗi đơn vị Quân Đội được thụ hưởng một Khu Bưu Chính (hộp thơ). Viết tắt KBC, với 4 con số ghi sau chỉ danh đơn vị đó.

KBC của Trường Bộ Binh có danh hiệu KBC 4100 trực thuộc Quân Bưu Cục Trung Ương tại Thủ Đô Sàigòn.

Hơn 80.000 cựu SVSQ Trừ Bị, khoảng trên dưới 20.000 Sĩ Quan Học Viên các Khóa cùng hàng ngàn quân nhân cơ hữu qua thời gian hiện diện tại Trường Bộ Binh khác nhau. Trong hoàn cảnh chiến tranh hàng ngày, trong tuần, mỗi tháng, không ai không mong ngóng đến tin tức của gia đình, người thân và nhất là những lá thư hồng, mực tím của người yêu xa nhà gởi đến trong lúc sống ở đồi Tăng Nhơn Phú, về sau là Long Thành.

Xem đến đây, độc giả nguyên là cựu SVSQ chắc không quên hồi tưởng lại những lúc đọc thư nhà vào giờ giải lao nơi giảng đường hoặc ngoài thao trường trong thời kỳ đào tạo để trở thành Sĩ Quan.

8. NỘI SAN TRƯỜNG BỘ BINH:

Các đơn vị trong QLVNCH trước 1975, tùy theo hoàn cảnh và khả năng, ngoài Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Bộ Tổng Tham Mưu, mỗi đơn vị đều có một tờ Nội San hoặc Bản Tin là tiếng nói của đơn vị.

Mỗi quân chủng, binh chủng có báo, Quân Đoàn, Sư Đoàn có báo. Tiểu Khu có khi có 2, 3 tờ khác nhau, rồi tới đơn vị nhỏ cấp Đại Đội biệt lập cũng có báo.

Về hệ thống Quân Trường và TTHL thì tờ Nội San càng phong phú và độc đáo như: ĐA HIỆU của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, BẮC ĐẨU của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, RA KHƠI của TTHL Hải Quân Nha Trang và nhiều tờ báo của các đơn vị khác. Riêng Trường Bộ Binh (Trừ Bị Thủ Đức), tờ Nội San lấy tên là BỘ BINH.

Tờ BỘ BINH khổ nhỏ 14 x 19 phân, dày khoảng 100 trang, phát hành ở Quân Trường, không bán cho dân chúng.

BỘ BINH là một trong những Nội San có giá trị nhất vì nội dung, bài vở đa dạng, phong phú bởi lẽ nơi đây tập trung rất nhiều nhân tài hoạt động ở mọi lãnh vực từ công tư chức, nhà giáo, đặc biệt rất nhiều văn nghệ sĩ, báo chí, truyền thông... của Miền Nam trước đây động viên vào Quân Đội. Về hình thức, tờ Nội San tuyệt đẹp. Ai nhận được Nội San BỘ BINH luôn luôn trân quý.

XIV. TUYỂN SINH BẢO AN (ĐỊA PHƯƠNG QUÂN) ĐÀO TẠO THÀNH SĨ QUAN TẠI TRƯỜNG BỘ BINH:

Nhiệm vụ chính của Trường Bộ Binh là đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho quân chủng Lục Quân, ngoài ra còn nhận huấn luyện tuyển sinh cho lực lượng Bảo An là tiền thân của lực lượng Địa Phương Quân.

Trong suốt 10 Khóa kể từ Khóa 7-17, liên tục tổng cộng có nhiều ngàn tuyển sinh Bảo An cùng được đào tạo chung với SVSQ Trừ Bị (động viên lẫn tình nguyện). Tham chiếu phóng sự về Lễ Mãn Khóa 15 Cách Mạng 1-11-1963 đăng trong báo Chiến Sĩ Cộng Hòa số 118, phát hành tháng 12-1963, trang 6, 7, 8: “Tổng số khóa sinh Khóa này là 1.852 người gồm có: 738 SVSQ Cộng Hòa và 1.114 SVSQ Bảo An. Số sinh viên được gọi động viên là 245 người và số tình nguyện 607 được chia ra Bộ Binh 1.308, binh chủng chuyên môn 544”.

Thành phần tuyển sinh Bảo An gồm có: Hạ Sĩ Quan Bảo An có thành tích xuất sắc và thanh niên dân chính tình nguyện nhập ngũ vào lực lượng Bảo An. Cả hai có trình độ văn hóa Trung Học phổ thông. Ngoại trừ những người có bằng Tú Tài, còn lại phải qua một kỳ thi tuyển do Nha Tổng Giám Đốc Bảo An, về sau là Bộ Tư Lệnh ĐPQ tổ chức.

SVSQ Bảo An tốt nghiệp được mang cấp hiệu Thiếu Úy Tạm Thời. Thời điểm này lực lượng Bảo An không có cấp Chuẩn Úy. Đến Khóa 16 tốt nghiệp ra trường bắt đầu mang cấp Chuẩn Úy như chủ lực quân.

Để biết thêm: Bảo An Đoàn thành lập ngày 8-4-1955 theo dụ số 26 trực thuộc Bộ Nội Vụ, rồi Phủ Tổng Thống, về sau thuộc Bộ Quốc Phòng.

Bảo An Đoàn biến cải thành ĐPQ do Sắc Lệnh số 189/QP ngày 7-5-1964.

Ngày 22-5-1964, CHỦ LỰC QUÂN, ĐPQ và NQ họp thành QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA do Sắc Lệnh số 161/SL/CT ngày 22-5-1964.

Đến năm 1974, lực lượng ĐPQ tại các Tiểu Khu có nơi tổ chức đơn vị lên cấp Liên Đoàn. Quân số ĐPQ tổng cộng như sau so với NQ và Bộ Binh:

- ĐPQ 281.000 người.

- NQ 189.000 người.

- Bộ Binh 398.000 người.

XV. SĨ QUAN TRỪ BỊ XUẤT THÂN QUÂN CHỦNG LỤC QUÂN LẠI PHỤC VỤ QUÂN CHỦNG HẢI VÀ KHÔNG QUÂN THUỘC NGẠCH TRỪ BỊ TRỞ THÀNH HIỆN DỊCH:

1. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có ba quân chủng: HẢI, LỤC, KHÔNG QUÂN và Lực Lượng ĐỊA PHƯƠNG QUÂN – NGHĨA QUÂN.

Thanh niên dân chính (động viên và tình nguyện) cùng một số rất ít cựu quân nhân (chưa phải Sĩ Quan) đủ điều kiện nhập học Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bộ Binh. Mãn Khóa phân phối về phục vụ các đơn vị Lục Quân, kể cả các binh chủng và ngành chuyên môn yểm trợ.

Nhằm điều phối nguồn Sĩ Quan chuyên nghiệp theo nhu cầu cho các quân chủng vào những giai đoạn phát triển lớn mạnh. Phần khác thỏa mãn nguyện vọng của các Sĩ Quan từ quân chủng Lục Quân lại muốn tung hoành trên mây xanh (Không Quân) hoặc yêu mộng hải hồ (Hải Quân), Bộ Tổng Tham Mưu đặc biệt chấp thuận cho các Sĩ Quan Trừ Bị hoặc ĐPQ hội đủ điều kiện có đơn xin chuyển từ quân chủng này sang quân chủng khác để phục vụ trước khi theo học các Khóa chuyên môn.

Từ đó, trong Niên Giám Sĩ Quan có số ít Sĩ Quan ghi phần nguyên lai binh nghiệp xuất thân Sĩ Quan Trừ Bị từ Trường Bộ Binh lại nằm ở danh sách quân chủng Không Quân hoặc Hải Quân.

Điển hình trong số các tướng lãnh xuất thân từ Trường Bộ Binh, về sau có một số là tướng lãnh Không Quân và Hải Quân.

Các Đồng Khóa, Đồng Môn Trường Bộ Binh qua các lần họp mặt từ trong nước trước tháng 4-1975 hoặc sau này tại hải ngoại trong quân phục đều có đủ màu sắc mọi quân binh chủng là vậy.

2. Sĩ Quan xuất thân Trừ Bị ghi là Hiện Dịch. Trường hợp này là Sĩ Quan Trừ Bị xin chuyển quan ngạch Hiện Dịch để được hưởng quy chế Hiện Dịch có phần ưu đãi hơn.

XVI. TRƯỜNG BỘ BINH TỪ THỦ ĐỨC DI CHUYỂN ĐẾN LONG THÀNH:

Đầu tháng 4-1974, trước khi Trường Bộ Binh nằm trên đồi Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức dời đi Long Thành đã bàn giao Huấn Khu Thủ Đức lại cho Đại Tá Trần Văn Tự. Tân Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu gồm có các Trường: Tổng Quản Trị, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Nhạc, Vũ Thuật, Thể Dục, thêm Trường Pháo Binh từ Dục Mỹ và Trường Đại Học CTCT từ Đạ Lạt rút về. Trường Bộ Binh dọn ra Long Thành cách Sàigòn 30 cây số về phía Đông. Trường nới rộng hơn trường cũ, tọa lạc trên 1 khu đất vuông vức mỗi bề một cây số nằm bên trái Quốc Lộ 15 từ Sàigòn đi Vũng Tàu. Nơi này kém an ninh hơn Thủ Đức vì gần mật khu An Viễn nên ban đầu nhà trường dành ưu tiên việc tổ chức phòng thủ, sau đó mới xây dựng các tiện nghi huấn luyện và đời sống, tạo nên cơ sở khang trang, oai nghi xứng đáng với một Quân Trường của thanh niên Việt Nam KHÔNG THEO ĐUỔI BINH NGHIỆP mà chỉ xếp bút nghiên đứng lên ĐÁP LỜI SỐNG NÚI trong buổi loạn ly.

Ở Long Thành, Trường Bộ Binh kế bên Trường Thiết Giáp và TTHL của Lực Lượng Đặc Biệt. Ba Quân Trường họp thành Huấn Khu Long Thành đặt dưới quyền chỉ huy của vị Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Đầu tháng 4-1975, Trường Bộ Binh có khoảng 4.000 SVSQ Trừ Bị thuộc các Khóa gối đầu nhau. Cuối năm 1974, Trường đã tiếp nhận 1.000 người (SVSQ) thuộc quân chủng Không Quân đang học tại Hoa Kỳ phải bỏ dở về nước để huấn luyện thành Sĩ Quan Bộ Binh, lý do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Cùng lúc này còn có các Sĩ Quan theo học các lớp khác nhau, ước lượng 500 người từ cấp Chuẩn Úy đến Trung Tá.

Giữa tháng 4-1975, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam do Tướng Lâm Quang Thơ rút về đây với số SVSQ và cơ hữu khoảng 500 người do Trường Bộ Binh yểm trợ hành chánh và tiếp vận và đã tổ chức mãn Khóa cho 2 Khóa 28 Nguyễn Đình Bảo và 29 Hoàng Lê Cường Sĩ Quan Hiện Dịch vào ngày 21-4-1975, dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, Đại Diện Tổng Thống VNCH.

XVII. VIỆC BỔ NHIỆM ĐẠI TÁ TRẦN ĐỨC MINH, CHỈ HUY TRƯỞNG TRƯỜNG BỘ BINH CUỐI CÙNG:

Cuối tháng 3-1975, tình hình quân sự nguy kịch sau khi Quân Đoàn II và I tan rã. Lúc bấy giờ, QLVNCH bố trí lại thành một vòng cung bảo vệ Sàigòn với các chốt chiến lược: Phan Rang, Xuân Lộc và Tây Ninh. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tự nguyện ra làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III trực tiếp phối hợp các lực lượng tiền tiêu ở Phan Rang nên chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh bị khuyết. Nhân dịp này, Tướng Nguyễn Bảo Trị, Phụ Tá Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn đã đề nghị theo một cách khác thường là chỉ đề nghị duy nhất Đại Tá Trần Đức Minh, Chỉ Huy Phó lên thay Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Khoảng thời gian này Miền Nam Việt Nam của chúng ta đã lâm vào cảnh vô cùng ngặt nghèo nhưng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn không dễ dàng chấp thuận. Tổng Thống đã tham khảo ý kiến một số tướng lãnh trước đây là cấp Chỉ Huy trực tiếp của Đại Tá Minh, kể cả Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi. Đại Tá Minh nhớ không lầm khoảng ngày 1-4, Tướng Nghi từ Dinh Độc Lập về bảo Đại Tá Minh làm biên bản bàn giao. Sáng hôm sau Đại Tá Minh nhận được công điện từ Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu cho biết Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã bổ nhiệm Đại Tá Minh làm Chỉ Huy Trưởng. Sắc lệnh sẽ ban hành sau.

Có lẽ cũng là số mệnh cả. Không hiểu sao Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng tỏ lòng ưu ái với Đại Tá Minh chẳng kém gì Tướng Nguyễn Bảo Trị mặc dù Tướng Nghi và Đại Tá Minh quen biết nhau từ khi Tướng Nghi về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Đại Tá Minh nhận chức Chỉ Huy Trưởng ngày 4-4-1975 lành thì ít mà dữ thì nhiều. Biết vậy nhưng Đại Tá Minh vẫn nhận vì đối với Đại Tá Minh không có chuyện vận động xin xỏ và quân lệnh như sơn, được chỉ định thì làm. Vả lại Quân Đội là của Tổ Quốc, không phải của riêng ai. Mỉa mai thay! Cái Sắc Lệnh ấy của Tổng Thống chẳng thấy đâu mà Việt Nam Cộng Hòa cũng chẳng còn đâu nữa!

Tất cả rốt cuộc đều là đồ “Mỹ ký” cả bởi vì như nhà nho Nguyễn Khuyến trước kia đã tự trào:

“Cờ đương dở cuộc không còn nước,

Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”.

Cho đến ngày 28-4, độc nhất chỉ có Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn đôi lúc điện thoại nhắc nhở Đại Tá Minh rằng: “Anh là một Sĩ Quan Trừ Bị đầu tiên được chỉ định vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trưởng Sĩ Quan Trừ Bị của QLVNCH nên phải tỏ ra xứng đáng và trong bất cứ trường hợp nào cũng phải xử sự thích ứng”. Đại Tá Minh trình lại Tướng Nguyễn Bảo Trị là: “Tôi sẽ làm đúng nhiệm vụ của tôi”.

(Ở tiết trên đây được ghi lại qua lời kể của Đại Tá Minh lúc sinh tiền mà người viết được hân hạnh tiếp xúc)

XVIII. TRƯỜNG BỘ BINH DI TẢN CHIẾN THUẬT VỀ LẠI THỦ ĐỨC:

Ngày 21-4-1975, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, lúc này Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ thôi giữ chức vụ CHT Võ Bị Quốc Gia, Tổng Cục Quân Huấn chỉ định Đại Tá Lộ Công Danh, Liên Đoàn Trưởng SVSQ Trường Bộ Binh XLTV CHT Trường Võ Bị. Toàn thể SVSQ Trường Bộ Binh và Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Trần Đức Minh di chuyển về lại Thủ Đức. Còn ở lại Long Thành một Bộ Tham Mưu thu hẹp và khối yểm trợ công vụ với Đại Tá Lê Văn Phú, Tham Mưu Trưởng Trường Bộ Binh.

Ngày 26-4-1975, trong đêm, Sư Đoàn 304 Bắc Việt bắt đầu tấn công Huấn Khu Long Thành mà họ gọi là Nước Trong. Chiến sự ác liệt, Trường Thiết Giáp gây cho đối phương thiệt hại nặng nề. Địch đã lọt vào nội vi Trường Bộ Binh bị đánh bật ra. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng đã xin Tổng Cục Quân Huấn rút bỏ bộ phận còn lại của Trường Bộ Binh ở Long Thành vì lúc này không còn trông cậy ở Bộ Tư Lệnh Quân Khu 3 nữa.

Trưa 27-4-1975, Đại Tá Minh Chỉ Huy Trưởng ngồi ở Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Biên Hòa để điều khiển cuộc triệt thoái bộ phận còn lại của Trường Bộ Binh ở Long Thành về Thủ Đức.

Lúc này Trường Bộ Binh có khoảng 6.000 người gồm SVSQ và quân nhân cơ hữu.

Cùng lúc này nhận được chỉ thị của Tổng Cục Quân Huấn điều động Trường Bộ Binh làm nhiệm vụ phòng thủ Sàigòn.

Bộ Tham Mưu Trường cho tổ chức lại các Tiểu Đoàn SVSQ, lập Bộ Tham Mưu và hai Liên Đoàn tác chiến, mỗi Liên Đoàn 2.500 người, trang bị các loại vũ khí huấn luyện, chia ra làm 3 tuyến phòng thủ Trường cùng một lực lượng trừ bị chờ rút về Sàigòn.

XVIX. TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG TẠI TRƯỜNG BỘ BINH:

Sáng 30-4-1975, hồi 8 giờ, pháo của đối phương đặt ở Nhơn Trạch lác đác nã vào Trường Bộ Binh. Đài quan sát báo cho biết có 4 chiến xa T54 từ Biên Hòa theo xa lộ về Sàigòn. Trung Tâm Hành Quân báo Biệt Khu Thủ Đô song không ai trả lời. Đại Tá Minh ra lệnh mọi loại pháo binh bắn chặn quyết liệt về hướng Đông, ngược lại pháo địch ầm ầm nhã đạn vào Thủ Đức. Đài quan sát báo cáo xe tăng địch xuất hiện khu nhà máy lọc nước ngã tư Thủ Đức đang lăm le tiến vào chợ Nhỏ. Lệnh Bộ Chỉ Huy đưa các xe ra làm vật ngăn cản không còn kịp nữa. Có tiếng hỏa tiễn M72 chống tăng nổ ở cổng trường. Pháo cùng đại liên nơi xe địch liên tục nổ. Ba trong bốn chiến xa bị bắn cháy ngay tại bờ rào kẽm gai nơi cổng Trường bởi pháo binh 105 ly trực xạ. Có một xe tăng địch xông vào nội vi Trường. SVSQ chỉ có súng cá nhân M16 nhắm xe tăng T54 bắn ròn rã và xe tăng men ra cổng số 9 rồi quay đầu lại từ từ chạy ra cổng chính. Đại Tá Minh ra lệnh Đại Đội Trưởng 663/ĐPQ dùng hỏa tiễn M72 hạ tăng. Sau 10 phút xe tăng đứt xích, nằm tại Niệm Phật Đường Quảng Đức quay pháo tháp vào Trường tiếp tục bắn phá. Lúc này có 1 SVSQ nhanh tay nhảy lên xe tăng liệng lựu đạn lân tinh vào trong pháo tháp. Đại Tá Minh được báo cáo xe tăng bị diệt, toàn thể tổ lái của địch đều chết vì tất cả bộ đội bên trong đều bị khóa chân. Đại Tá Minh thở phào nhẹ nhõm. Sau kiểm tra lại, người SVSQ ấy thuộc Đại Đội 12 Tiểu Đoàn 1 SVSQ Không Quân do Trung Úy Trần Hữu Thọ làm Đại Đội Trưởng. Rất tiếc không ai nhớ được tên SVSQ này.

Lúc này có viên Sĩ Quan đứng cạnh Đại Tá Minh mở radio nghe và hốt hoảng la lên đầu hàng rồi. Đại Tá Minh rụng rời nghe Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng ra lệnh ngưng nổ súng và bàn giao cho quân Bắc Việt ngụy danh giải phóng Miền Nam.

Được lệnh đầu hàng, Đại tá Minh lệnh cho Đại Úy Nguyễn Ngọc Thạch gọi tất cả các đơn vị ngưng chiến đấu. Mọi người đều rơi nước mắt. Có người òa khóc khi nghe tin này. Đại Tá Minh nói: “Nhiệm vụ chúng ta là quân đội phải tuân lệnh Thượng Cấp”.

Một giờ sau, đại diện Cộng Sản đến gặp Đại Tá Minh bảo bàn giao Huấn Khu. Cấp chỉ huy không còn ai, tất cả đều thay áo quần và bỏ đi hết rồi. Đại Tá Minh với tư cách Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu bàn giao cho họ số vũ khí bắt được trên chiếc xe tăng bị bắn cháy và nói với họ lo chôn cất những người chết trong chiếc xe tăng đó. Hôm đó phía nhà trường có một số SVSQ và quân nhân cơ hữu thương vong, trong số bị chết có Trung Tá Tuyền thuộc văn phòng Phụ Tá Kiểm Huấn Trường Bộ Binh và Thiếu Tá Thuận bị gãy chân

Hiện diện bàn giao có chừng vài trăm người, mặt mày ngơ ngác, bần thần. Loáng thoáng một cái không còn ai mặc quân phục nữa. SVSQ mặc đồ dân sự lủi thủi lê chân ra phía cổng chính. Đại Tá Minh bùi ngùi nhìn theo tủi hổ. Chiều hôm đó Đại Tá Minh trút bỏ quân phục và được yêu cầu nghỉ riêng trên lầu của tư dinh Chỉ Huy Trưởng trong khi Bộ Chỉ Huy quân Bắc Việt đóng dưới lầu. Đêm đó Đại Tá Minh lên cơn sốt, chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Đại Tá đã khóc thật nhiều. Lúc này Đại Tá Minh mới thấm thía cảm nghiệm được cái lẽ vô thường mà trước kia Đại Tá chỉ hiểu được bằng lý trí.

Sau này ở trong tù miền Bắc Việt Nam, qua tờ báo hình như là Văn Nghệ, Đại Tá Minh được biết trong số người Cộng Sản bị chết có viên Trung Tá Chỉ Huy mũi Thiết Giáp, một người Miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954, chỉ còn độ nửa giờ nữa là về đến quê hương, có thể là Gia Định thì chẳng may đã “hy sinh”.

Trong đoạn kết trả lời phỏng vấn của Đại Tá Trần Đức Minh với Tạp Chí Văn Nghệ Tiền Phong nhân 25 năm ngày Miền Nam lọt vào vòng thống trị của Cộng Sản, nguyên văn đoạn trích như sau:

“Trước hết tôi xin chân thành cám ơn tất cả quân nhân và SVSQ của Trường Bộ Binh đã cùng tôi chiến đấu đến phút chót tại Thủ Đức vào ngày 30-4-1975 để bảo vệ Tổ Quốc cũng như thanh danh của nhà trường. Tôi cũng xin kính cẩn tưởng niệm vong hồn một số quân nhân của Trường Bộ Binh đã hy sinh vào phút sau cùng của cuộc chiến tranh chồng chất oan khiên suốt mấy chục năm trời.

Đối với tất cả quý vị từng là SVSQ Trường Sĩ Quan Trư Bị Thủ Đức, tôi xin kính cáo, mặc dù là trễ mất 25 năm, quý vị có thể tự hào về những Khóa đàn em của quý vị vào ngày 30-4-1975, không những hiên ngang dùng súng cá nhân nã vào xe tăng hung hãn của địch mà còn can trường nhảy lên xe tăng liệng lựu đạn diệt thù nữa. Ngọn lửa hồng vẫn rừng rực, thanh kiếm bạc vẫn ngời ngời trên nền trời xanh thẳm của Miền Đồng Nai, dãi đất cực Nam hiền hòa, trù phú, tự do của Tổ Quốc mà Tổ Tiên ta đã dày công khai

Tôi rạo rực nhớ lại khung trời kỷ niệm của Trường Sĩ Quan Thủ Đức vương mùi thuốc súng của ngày chiến trận sau cùng và bồi hồi nghe văng vẳng đâu đây tiếng hát “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dờn...” của SVSQ lúc ra thao trường”.

Bạn đọc quý mến. cám ơn bạn đã xem xong bài viết này. bài viết chắc không tránh khỏi những thiếu sót. Mong tất cả quý Huynh, Đệ nguyên là Thầy và Đồng Môn từng xuất thân từ Trường Bộ Binh xin bổ khuyết thêm để có một tài liệu tương đối giúp cho những ai muốn tìm hiểu về Trường Bộ Binh.

Tài liệu tham khảo:

- Tài liệu và hình ảnh của Đại Tá Trần Đức Minh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trưởng Bộ Binh gởi cho năm 2007 và Đại Úy Nguyễn Ngọc Thạch, nguyên Trưởng Phòng Kế Hoạch Trường Bộ Binh gởi cho tháng 9 năm 2007 - 2010.

- Bài “Lược sử Trường Bộ Binh” của Đại Tá Hà Mai Việt trong “Thép và Máu” 2005.

- Phóng sự Lễ Mãn Khóa 15 Cách Mạng ngày 1-11-1963 đăng trong Chiến Sĩ Cộng Hòa số 118, tháng 12-1963.

- Phóng sự: Ngày 9-10-1974 kỷ niệm 23 năm thành lập Trường Bộ Binh đăng trong Chiến Sĩ Cộng Hòa số 310 ngày 20-10-1974.

- Quân Sử 4 của Bộ Tổng Tham Mưu 1972.

- “Hai mươi năm qua, việc từng ngày 1945-1964” của Đoàn Thêm.

- Hình ảnh và tài liệu trích từ sách “Lược Sử QLVNCH” của Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân và Lê Đình Thụy.

- Tài liệu của nhà văn Phạm Phong Dinh và Nguyễn Kỳ Phong gởi cho.

- Viết xong tại Oange County ngày 5/10/2010.

- Đến ngày 14/10/2010 bổ sung thêm các mục: Khu Bưu Chính, Nội San của Trường và việc Bổ nhiệm vị Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh cuối cùng. Thêm phần tài liệu tham khảo.

HỒ ĐẮC HUÂN

Cựu SVSQ Khóa 2 Nhân Vị Nha Trang.